Tìm kiếm hỏi đáp

Tìm kiếm hỏi đáp.

PAPI là gì?

Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (viết tắt theo tên tiếng Anh là PAPI) là công cụ phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp.

Hộp 1 dưới đây giới thiệu tóm tắt về PAPI.

Hộp 1 Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI)
Mục tiêu
phát triển:
Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) hướng tới cải thiện hiệu quả phục vụ nhân dân của chính quyền địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của nhân dân thông qua việc:

(i) tạo cơ hội cho người dân tham gia đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền, vận động chính quyền cải thiện cung cách phục vụ nhân dân; và,

(ii) thúc đẩy việc tự đánh giá để đổi mới, tạo tập quán cạnh tranh lành mạnh và văn hóa học hỏi kinh nghiệm giữa các chính quyền địa phương.

Triết lý
phát triển:
Người dân là trọng tâm của quá trình phát triển, là ‘khách hàng’ với đầy đủ khả năng đánh giá chất lượng phục vụ của nhà nước và chính quyền các cấp, đồng hành cùng nhà nước trên bước đường xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân” ở Việt Nam.
Đối tượng phục vụ:
  • Người dân Việt Nam
  • Chính quyền 63 tỉnh/thành phố (Tỉnh ủy/Thành ủy, Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân) và các cấp chính quyền cấp huyện/quận và xã/phường/thị trấn
  • Các cơ quan trung ương (các cơ quan Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành)
  • Báo giới, các tổ chức đoàn thể và các tổ chức xã hội
  • Cộng đồng nghiên cứu ở Việt Nam và quốc tế
  • Cộng đồng các tổ chức quốc tế và nhà tài trợ
Nội dung: 8 chỉ số nội dung, 28 nội dung thành phần, hơn 120 chỉ tiêu chính, hơn 550 câu hỏi về nhiều vấn đề chính sách của Việt Nam:
1.        Tham gia của người dân ở cấp cơ sở

2.        Công khai, minh bạch trong ra quyết định

3.        Trách nhiệm giải trình với người dân

4.        Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công

5.        Thủ tục hành chính công

6.        Cung ứng dịch vụ công

7.        Quản trị môi trường

8.        Quản trị điện tử

Phương pháp:        Phỏng vấn trực tiếp Thời lượng: Trung bình 45-60 phút/phỏng vấn
Lấy mẫu và thực hiện: Theo chuẩn lấy mẫu hiện đại quốc tế: Xác xuất quy mô dân số (PPS) các đơn vị hành chính đến cấp thôn và lấy mẫu ngẫu nhiên người trả lời; khảo sát trên máy tính bảng từ năm 2015
Ở đâu: Toàn bộ 63 tỉnh/thành phố từ năm 2011, bao gồm

  • 207 đơn vị huyện/quận/thành phố/thị xã (gồm 63 thành phố/thị xã thủ phủ cấp tỉnh và các đơn vị huyện/quận chọn theo xác xuất quy mô dân số PPS)
  • 414 đơn vị xã/phường/thị trấn (gồm các thị trấn/quận/thành phố thủ phủ cấp huyện và các đơn vị xã/phường/thị trấn chọn theo xác xuất quy mô dân số PPS)
  • 828 đơn vị thôn/tổ dân phố/ấp/bản/buôn (gồmcác khu dân cư thủ phủ cấp xã/phườngvà các đơn vị thôn/ấp/bản/tổ dân phố chọn theo xác xuất quy mô dân số PPS)
Ai: 117.363 người dân với đặc điểm nhân khẩu đa dạng trên toàn quốc, tính từ năm 2009

  • 2018: 14.304 (52.95% nữ)
  • 2017: 14.097 (52.6% nữ)
  • 2016: 14.063 (54,8% nữ)
  • 2015: 13.955 (54,1% nữ)
  • 2014: 13.552(52,9% nữ)
  • 2013: 13.892 (52,7% nữ)
  • 2012: 13.747 (52,6% nữ)
  • 2011: 13.642 (52,9% nữ)
  • 2010: 5.568 (30 tỉnh; 47,5% nữ)
  • 2009: 543 (3 tỉnh; 40,3% nữ)
Mẫu đại diện cho mọi thành phần dân tộc ở Việt Nam tính từ năm 2010

  • 2018: Kinh 84.54%; Khác 15.46%
  • 2017: Kinh 83.5%; Khác 16.5%
  • 2016: Kinh 83,7%; Khác 16,3%
  • 2015: Kinh 83,9%; Khác 16,1%
  • 2014: Kinh 83,9%; Khác 16,1%
  • 2013: Kinh 84,6%; Khác 15,4%
  • 2012: Kinh 84,4%; Khác 15,6%
  • 2011: Kinh 84,5%; Khác 15,5%
  • 2010: Kinh 85,0%; Khác 15,0%
Các cơ quan thực hiện:
  • Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP)
  • Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES)
  • Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT)
  • Công ty Phân tích thời gian thực (RTA)
  • Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (HCMA) (nghiên cứu định tính dựa trên kết quả PAPI)
Các đối tác
tài trợ:
  • Chính phủ Tây Ban Nha (2009-2010)
  • Chính phủ Thụy Sĩ (2011-2017)
  • Chính phủ Úc (2018-2021)
  • Chính phủ Ai-len (2018-2021)
  • Một Liên Hợp quốc và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (2009-2021)
Cổng thông tin PAPI:
  • Website: www.papi.org.vn
  • Twitter: @PAPI_Vietnam
  • Facebook: www.facebook.com/papivn
  • YouTube: www.youtube.com/user/PAPIVietNam

 

Ai thực hiện PAPI?

PAPI được phối hợp triển khai bởi Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), từ năm 2009 tới nay, cùng với sự hỗ trợ của các đối tác trong suốt quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu, gồm Trung tâm Công tác lý luận và Tạp chí Mặt trận thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ năm 2009-2012), Ban Dân nguyện thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (trong năm 2012), và Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ năm 2013). Từ năm 2015, Công ty Phân tích Thời gian thực (RTA) tham gia cung ứng dịch vụ lập trình bảng hỏi điện tử rtSurvey chuyên dành cho PAPI.

Ngoài ra, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là đối tác thực hiện nghiên cứu chuyên đề và tư vấn cho chính quyền địa phương về các giải pháp cải thiện hiệu quả công vụ, đồng thời chia sẻ kết quả PAPI với lãnh đạo các tỉnh/thành phố thông qua các lớp đào tạo lãnh đạo nguồn trung và cao cấp.

Chương trình nghiên cứu được hỗ trợ bởi ban Tư vấn quốc gia có uy tín và tới từ nhiều lĩnh vực.

Ai là thành viên Ban Tư vấn quốc gia PAPI?

Ông Jairo Acuna-Alfaro, Cố vấn chính sách về thể chế đáp ứng và giải trình, Bộ phận Quản trị và Gìn giữ hòa bình, Ban Hỗ trợ Chính sách và chương trình, Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại New York

Ông Justin Baguley, Tham tán về Hợp tác Phát triển và Kinh tế, Đại sứ quán Úc tại Việt Nam

Ông Bùi Đặng Dũng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang

Ông Bùi Phương Đình, Viện trưởng Viện Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Cao Thị Hồng Vân, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam

Ông Đinh Xuân Thảo, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Ông Đỗ Duy Thường, Ủy viên Chủ tịch đoàn, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Akiko Fujii, Phó Đại diện thường trú, Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam

Ông Hồ Ngọc Hải, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Khoa học, Giáo dục và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàng Vân Anh, Vụ trưởng Vụ Chính sách và Pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Ông Hoàng Xuân Hoà, Trợ lý Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, Văn phòng Chính phủ

Ông Lê Văn Lân, Nguyên Phó Trưởng ban, Ban Nội chính Trung ương

Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương

Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ông Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt-Nhật, Giám đốc Trung tâm Hòa giải tranh chấp thương mại Việt Nam

Nguyễn Thuý Anh, Nguyên Trưởng ban Quốc tế, Tạp chí Cộng sản, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Ông Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam

Elisa Cavacece, Phó Đại sứ kiêm Trưởng ban Phát triển (các nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Miến Điện), Đại sứ quán Ai-len tại Việt Nam

Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế cao cấp, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Ông Phạm Duy Nghĩa, Giám đốc Chương trình Thạc sĩ Chính sách công, Đại học Fulbright

Ông Phạm Văn Tân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA)

Ông Thang Văn Phúc, (Trưởng ban Tư vấn) Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Viện Nghiên cứu phát triển Việt Nam

Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên Thường trực, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

 

Ghi chú: Thứ tự được sắp xếp theo Họ của các thành viên Ban Tư vấn.

PAPI đo lường những gì?

PAPI đánh giá mức độ hiệu quả của quản trị và hành chính công cấp tỉnh thông qua tám trục:

(i) Tham gia của người dân ở cấp cơ sở;
(ii) Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương;
(iii) Trách nhiệm giải trình với người dân;
(iv) Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công;
(v) Thủ tục hành chính công;
(vi) Cung ứng dịch vụ công;
(vii) Quản trị môi trường; và,
(viii) Quản trị điện tử.

Từ năm 2018, PAPI bao gồm 8 chỉ số nội dung, 28 nội dung thành phần và hơn 120 chỉ tiêu cụ thể. Trước đó, từ năm 2009 đến 2017, PAPI có 6 chỉ số nội dung, 22 nội dung thành phần và hơn 90 chỉ tiêu cụ thể.

Để biết thêm chi tiết các chỉ tiêu cụ thể, bạn đọc tham khảo Báo cáo PAPI 2011-2018 tại trang Báo cáo và Dữ liệu PAPI.

 

PAPI 2010 đã chọn 30 tỉnh để khảo sát như thế nào?

Triển khai hầu như trên một nửa số tỉnh/TP trong cả nước, PAPI 2010 tạo ra một cơ hội hiếm có nhằm cung cấp một công cụ hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách, không những đối với các tỉnh/TP được chọn khảo sát (nhóm khảo sát) mà còn có thể tham khảo cho các tỉnh còn lại (nhóm kiểm chứng), bằng cách so sánh bộ chỉ số PAPI theo từng cặp tỉnh/TP. Dựa trên phương pháp “cặp đôi theo điểm xác suất” dự án đã phân chia tất cả các tỉnh/TP trong cả nước thành hai nhóm, trong đó mỗi tỉnh/TP trong “nhóm khảo sát” sẽ được “cặp đôi” với một tỉnh/TP trong “nhóm kiểm chứng”, hai tỉnh/TP “cặp đôi” này có các yếu tố tương tự trong khía cạnh ảnh hưởng tiềm tàng đến quản trị và hành chính công, như: phát triển kinh tế, dân số, mức đô thị hóa, cơ cấu kinh tế, v..v (thông tin chi tiết xem Chương 3 của Báo cáo)

PAPI chọn người trả lời phỏng vấn như thế nào?

PAPI chia các tỉnh thành Việt Nam ra làm ba loại: loại lớn với trên 5 triệu dân (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), loại vừa với số dân 2 – 5 triệu (Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai, An Giang) và loại nhỏ với số dân dưới 2 triệu (57 tỉnh còn lại).

Để đảm bảo tính tương thích giữa tất cả các tinh/TP khảo sát, mỗi tỉnh/TP loại nhỏ sẽ có 3 huyện/quận được chọn, các tỉnh cỡ trung và lớn có 6 huyện/quận được chọn, trong đó huyện/quận là thủ phủ của tỉnh/TP (nơi có trụ sở UBND tỉnh/TP) luôn luôn được chọn để khảo sát (chọn mặc định). Các huyện/quận còn lại được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên PPS (xác suất theo quy mô dân số). Tiếp theo, tại mỗi huyện/quận đã chọn sẽ chọn 02 xã/phường, trong đó một xã/phường, nơi có trụ sở UBND huyện/quận, lại được chon mặc định, còn xã/phường thứ hai được chọn trong các xã/phường còn lại theo phương pháp ngẫu nhiên PPS. Bước tiếp, chọn thôn/ấp/TDP (gọi chung là thôn), Tại mỗi xã/phường đã chọn, sẽ chọn 02 thôn, trong đó một thôn là nơi có địa điểm trụ sở UBND xã/phường, còn thôn thứ hai được chọn trong các thôn còn lại theo phương pháp ngẫu nhiên PPS. Cách chọn mẫu như vậy đảm bảo khả năng tham dự đồng đều theo địa lí và tình trạng kinh tế-xã hội, từ các vùng đô thị đông dân cư tới các vùng xa, vùng sâu, mền núi. Nhờ phương pháp ngẫu nhiên PPS cơ hội tham gia là như nhau giữa các đơn vị dân cư có quy mô khác nhau. Để xác định danh sách người tham gia trả lời phỏng vấn, tại mỗi thôn dựa trên phương pháp ngẫu nhiên PPS chọn ra 20 người từ 18 đến 70 tuổi (và 10 người dự phòng) để đảm bảo có 16 người mỗi thôn tham gia trả lời phỏng vấn theo dự kiến (24 người / thôn ở các tỉnh lớn). Một lần nữa, phương thức chọn mẫu theo xác suất như vậy đã đảm bảo cơ hội được chọn tham gia trả lời phỏng vấn của mỗi người dân trong độ tuổi trên đây là ngang nhau. (Xem thêm thông tin chi tiết trong Báo cáo).

Mẫu khảo sát có mang tính đại diện?

So sánh giữa các thông số đặc trựng dân số từ mẫu khảo sát của PAPI (sau khi đã tính đến yếu tố trọng số) và những dữ liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009 của Việt Nam cho thấy: Với độ tin cậy hợp lí, mẫu khảo sát của PAPI đã mang tính đại diện dân số (trong độ tuổi đã khảo sát) theo các nhóm dân, theo vùng, miền, và các tỉnh/TP, độ sai số thiết kế là đủ nhỏ. (Xem chi tiết tại các Báo cáo PAPI)

Giữa PAPI và PCI có những gì tương đồng và khác biệt?

Bảng dưới đây cung cấp những khía cạnh được so sánh giữa PAPI và PCI (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), một cách khái quát là: Về phương pháp luận thì PAPI và PCI là tương đồng; còn về đối tượng trả lời phỏng vấn thì PAPI và PCI là khác biệt.

  PAPI PCI
Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Mục tiêu Cả PAPI và PCI đều có mục tiêu đánh giá chính quyền cấp tỉnh dựa trên tính hiệu quả của quản trị và hành chính công nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh giữa các tỉnh
Người trả lời Khoảng 14,000 người mỗi năm Khoảng 10.000 doanh nghiệp mỗi năm
Hình thức khảo sát Khảo sát tại địa bàn, phỏng vấn trực tiếp người dân Khảo sát qua gửi thư và điện thoại
Quy mô khảo sát
  • 63 tỉnh/thành phố, hàng năm từ 2011
·         63 tỉnh/thành phố, hàng năm từ 2006
Các cơ quan triển khai
  • Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)
  • Trung tâm Nghiên cứu phát triển-Hỗ trợ cộng đồng (CECODES)
  • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN)
  • Công ty Phân tích thời gian thực (RTA)
  • Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
  • Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
Xây dựng Bộ chỉ số tổng hợp
  • Phương pháp luận tổng quát giữa PAPI và PCI là tương tự trong xây dựng các chỉ số ở cấp địa phương nhằm khích lệ sự so sánh những ưu tiên trong quản trị từ trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp.
  • Tương tự về cách xây dựng và đo lường bộ chỉ số
  • Ba bước khi xây dựng bộ chỉ số: Thu thập, Xây dựng và Điều chỉnh
Chỉ dữ liệu khảo sát Kết hợp dữ liệu khảo sát với dữ liệu có sẵn đã công bố (dữ liệu “cứng”)
  • 8 chỉ số nội dung
  • 28 nội dung thành phần
  • Hơn 120 chỉ tiêu cụ thể
  • 10 chỉ số thành phần
  • 128 chỉ tiêu cụ thể
Các trục nội dung
  1. Tham gia của người dân tại cấp cơ sở
  2. Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương
  3. Trách nhiệm giải trình với người dân
  4. Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công
  5. Thủ tục hành chính công
  6. Cung ứng dịch vụ công
  7. Quản trị môi trường (từ 2018
  8. Quản trị điện tử (từ 2018)
  1. Chi phí gia nhập thị trường
  2. Tiếp cận đất đai và ổn định trong sử dụng đất
  3. Tính minh bạch
  4. Chi phí thời gian
  5. Chi phi không chính thức
  6. Cạnh tranh bình đẳng
  7. Tính năng động
  8. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
  9. Đào tạo lao động
  10. Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự

·       Chỉ số Cơ sở hạ tầng (chưa đưa vào tính điểm PCI)

Tôi có thể truy cập kết quả của PAPI như thế nào?

Vào Thư viện báo cáo để đọc báo cáo đã xuất bản, bài trình bày và dữ liệu PAPI. Có thể tự tìm hiểu kết quả của các tỉnh, thành phố tại mục Chỉ số PAPI.

Tôi có thể truy cập số liệu gốc của PAPI như thế nào?

Số liệu cơ bản theo các chỉ số nội dung và nội dung thành phần được đăng tải ở dạng MS Excel và CSV trong mục Báo cáo và Dữ liệu PAPI.

Dữ liệu PAPI ở dạng STATA có thể được gửi theo yêu cầu. Chúng tôi quan tâm thúc đẩy những nghiên cứu và tiếp cận mở rộng sử dụng dữ liệu của PAPI. Ngược lại, chúng tôi đề nghị có quyền đăng những bài báo, công trình trong mục Báo cáo và Dữ liệu PAPI trên cổng thông tin PAPI này. Bộ Phiếu hỏi PAPI và Codebook cũng được cung cấp theo yêu cầu và có điều kiện.

Để yêu cầu dữ liệu gốc, xin liên hệ với chúng tôi qua Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam theo địa chỉ emai: registry.vn[@]undp.org.

English